|
NỘI DUNG YÊU CẦU
4.4.2 Hợp phần về sức khoẻ y t:
Đây là hợp phần được đầu tư chủ yếu cho 2 trung tâm y tế của 2 huyện Tam Nông và Tân Hồng. Phải nói rằng các mục tiêu của chương trình là rất rõ ràng và thiết thực, phù hợp với tình hình thực tế về lĩnh vực sức khoẽ của nhân dân 2 huyện.
Các hoạt động và kinh phí dự kiến :
(xem bảng).
Việc thực hiện dự án- các hoạt động cụ thể:
Các hoạt động đã được thực hiện sau hơn 2 năm dự án đi vào hoạt động đều đúng như các dự kiến đề ra. Tập trung vào các lĩnh vực chính đó là:
* Mua sắm các trang thiết bị.
* Sửa chữa nhà cửa.
* Bảo trì các thiết bị, và
* Đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ y tế của trung tâm.
Kết quả thực hiện:
Qua việc thực hiện các hoạt động, sau hơn 2 năm cho thấy một số kết quả như sau:
a/. Mua sắm các trang thiết bị:
Các trang thiết bị mua sắm đều được thực hiện như dự án ban đầu.
Điểm mạnh:
- Các thiết bị đã giúp cho các bệnh viện của 2 huyện có khả năng chuẩn đoán bệnh cho bệnh nhân tốt hơn. Điều này đã có thể minh chứng qua một số thiết bị như một số dụng cụ y tế nhỏ, máy xét nghiệm phân tích sinh hoá ở trung tâm y tế Tam Nông (trên thực tế máy này cũng của CCFD tài trợ xong không trong ngân sách của dự án này).
- Các thiết bị đã giúp cho việc phục vụ tốt hơn người bệnh trong công tác điều trị.
Điều này được thể hiện qua việc trang bị thêm các thiết bị cho 02 xe ôtô cấp cứu của Trung tâm Y tế Tam Nông, qua hệ thống trung tâm cung câp ôxy ở Tân Hông và qua các thiết bị khác.
Giúp cho vệ sinh của các bệnh viện tốt hơn, không gây ô nhiễm môi trường taị bệnh viện cũng như xung quanh, thể hiện qua các lò huỷ rác được lắp đặc tại 2 bệnh viện, các dụng cụ đựng rác, nhà vệ sinh cho bệnh nhân…
Điểm yếu:
- Một số thiết bị mà phía CCFD (hoặc SFD) mang sang tặng đã quá cũ, lạc hậu và không thể sử dụng được gây tâm lý không tốt cho các cán bộ của bệnh viện (vì đã phải mất nhiều chi phí cho việc tiếp nhận các thiết bị nói trên). Vì thế hiệu quả không cao, tốn chi phí bảo hành sửa chữa.
- Chưa có được một số thiết bị thật cần thiết cho nhu cầu chuẩn đoán, khám chữa bệnh của bệnh viện (có thể do bị giới hạn về kinh phí) không theo nhu cầu thực tế của bệnh viện.
b/. Sửa chữa nâng cấp một số nhà, phòng khám bệnh:
Điều này đã cho phép cải thiện hơn tình hình khu phòng khám và điều trị đã bị xuống cấp. Tuy vậy, số tiền không đủ để đáp ứng được nhu cầu hiện nay của 2 bệnh viện hoặc do lý do khác như khoa sản ở Tam Nông không thực được việc thiết lập phòng chăm sóc đặc biệt cho trẻ sơ sinh vì số ca sinh đẻ đặc biệt hàng năm không nhiều. Sẽ là không có hiệu quả và lãng phí nếu trang bị một phòng như vậy ở bệnh viện Tam Nông.
c/. Bảo trì các thiết bị máy móc:
Việc bảo trì là cấn thiết nhất là 2 huyện đều ở các vùng sâu, vùng xa và các điều kiện về thiên nhiên tác động nhiều đến thiết bị máy móc, hệ thống ha tầng cơ sở làm cho các thiết bị này nhanh xuống cấp.
Tuy nhiên, với các số tiền dự kiến như hiện nay thường là không đủ và thường vượt chi hoặc nhiều khi gây ảnh hưởng đến việc bảo trì không triệt để như nhu cầu do hạn chế kinh phí.
Một hạn chế nữa trong công việc bảo trì là không có cán bộ chuyên môn sâu về kỹ thuật bảo trì nên cũng gây khó khắn trong công tác bảo trì.
d/. Đào tạo:
Đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho các y bác sĩ của Trung tâm y tế huyện là việc làm cần thiết và hiệu quả của vấn đề này là hết sức to lớn. Nó là chiến lược về đào tạo nguồn nhân lực của Chính phủ Việt Nam, của tỉnh Đồng Tháp cũng như của 2 huyện.
Trong dự án CCFD tài trợ thì việc đào tạo thường có 2 hình thức là:
- Cử đi học tại các khoá đào tạo ngắn hạn tại các trường y tế trong tỉnh, ngoài tỉnh hoặc ở các bệnh viện lớn.
- Dự các lớp huấn luyện tại chỗ do dự án thực hiện với sự trợ giúp của các bác sĩ chuyên gia SFD.
Điểm mạnh:
- Việc thực hiện về số lượng người được đào tạo, chuyên môn đào tạo được thực hiện tốt như dự kiến nhất là ở năm thứ 1, với năm thứ 2 do kinh phí đào tạo được cấp muộn nên không thực hiện được hết nội dung như dự kiến.
- Mở ra cơ hội cho nhiều y, bác sĩ được nâng cao trình dộ chuyên môn (vì điều kiện vùng sâu, vùng khó khăn nên việc tiếp cận với các kiến thức mới sự hạn chế và làm giảm trình độ của họ đi nhiều).
Ngoài ra, các y tế bác sĩ đã có thể nắm thêm được một số kiến thức mới. Về điểm này có thể thông qua một số ví dụ sau:
Tiến hành siêu âm cho bệnh nhân. Địều này cho phép họ chuẩn đoán bệnh tốt hơn.
* Có đến 100% số Bác sĩ ở cả 2 Trung tâm được học qua lớp hồi sức cấp cứu trong khi kinh phí tỉnh không cho phép thực hiện được điều này.
* Đã có thể tiến hành xử lý được một số bệnh mà trước kia ở 2 Trung tâm không làm được và thường bệnh nhân phải đi các bệnh viện Tỉnh hoặc lên Thành Phố Hồ Chí Minh. Ví dụ như về chấn thương chỉnh hình ở Tam Nông hay mở được chuyên khoa về mắy ở Tân Hồng.
* Hướng dẫn được cho nhiều xã về các bệnh sốt xuất huyết, tiểu đường, cao huyết áp.
* Qua được đào tạo thì việc hiểu biết sử dụng các loại thuốc được tăng lên làm cho số lượng thuốc của bệnh viện cũng tăng lên.
* Vệ sinh được cải thiện hơn ở phòng khám và điều trị cũng như phương pháp điều trị bệnh, chăm sóc bệnh nhân.
Điểm yếu:
* Chưa được chủ động trong đào tạo cả về chuyên môn cũng như thời gian.
Hiện tại, mặc dù có dự kiến đào tạo nhưng cả 2 trung tâm phải thông qua ý kiến của Sở y tế Tỉnh là nơi quản lý trực tiếp của họ. Các chuyên ngành đào tạo phải phụ thuộc phần nào về kế hoạch nhu cầu của tỉnh và được sở y tế tỉnh duyệt và có mấy vấn đề xảy:
* Các chuyên môn chưa thật sát với nhu cầu về phòng bệnh, khám và điều trị bệnh của trung tâm (ví dụ ở Tam Nông, lãnh đạo trung tâm cho biết rất cần một số chuyên môn đào tạo như khám và điều trị bệnh bướu cổ là bệnh đang có tỉ lệ cao trong vùng).
* Khi được sở y tế thông qua có thể thời gian cho khoá học đã bị chậm, không khớp với nhu cầu.
* Không chủ động việc tự bố trí gửi người đi đào tạo theo nhu cầu thực tế của Trung tâm.
* Kinh phí đào tạo được hỗ trợ thường không đủ chỉ đáp ứng được phần nào các chi phí phải trả cho một khoá đào tạo trong khi chi phí cho cả khoá đào tạo không nhiều.
Ví dụ: - Chuyên khoa mắt: 3,6 triệu/ khoá/ 10 tháng/người.
- Siêu âm tổng quát: 1,2 triệu/ khoá/ 4 tháng/người.
Hoặc không có kinh phí mà đã không thể đưa người đi học về bảo trì máy móc thiết bị y tế và ngoài ra không có đào tạo về công tác vệ sinh an toàn trong y tế.
* Không có các đào tạo dài hạn mà chỉ là các đào tạo ngắn.
* Các khoá tập huấn của SFD tổ chức là rất thiết thực. Tuy nhiên, theo nhận xét thì nhiều vấn đề chưa thật phù hợp với thực tế ở địa phương. Theo các Trung tâm thì nhiều nội dung là các vấn đề cơ bản mà hầu hết các Bác sĩ đã biết, cái mà họ cần là các thông tin mới về chuyên môn thì chưa được thông tin đầy đủ. Có thể ví dụ là ưu điểm thuốc tiểu đường mới hơn so với thuốc cũ ở điểm gì….
* Việc lựa chọn nhân sự phù hợp song khi học xong các khoá đào tạo về lại bệnh viện công tác do không có các thiết bị nên đã hạn chế việc họ phát huy được kiến thức đã học.
Việc thực hiện về kế hoạch chi tiêu tài chính:
Thực tế, số tiền chi cho các hoạt động của Trung tâm y tế của 2 huyện là không nhiều và nhìn chung 2 năm vừa qua các chi phí trên đều được thực hiện tương đối tốt so với dự kiến.
Riêng năm thứ 2, do kinh phí được thông báo muộn cho nên một số nội dung đào tạo bị chậm lại và hiện tại ở cả 2 Trung tâm phần kinh phí của đào tạo vẫn còn dư nhiều.
- Phần chi cho các hoạt động của SFD chiếm tỷ kệ tương đối lớn.
- Kinh phí được chuyển cho 2 trung tâm có hình thức khác nhau nên nhiều khi làm cho họ không chủ động trong chi tiêu (theo thông tin thì kinh phí của Trung tâm y tế Tam Nông được đưa về qua Sở Y tế tỉnh chứ không chuyển thẳng như ở Tân Hồng) và điều đó làm các công việc quyết toán thêm phức tạp.
Một số ý kiến của các cán bộ y Bác sĩ được dự các khoá đào tạo với sự hỗ trợ kinh phí của CCFD:
Qua tiếp xúc với các cán bộ của 2 Trung tâm được dự các khoá đào tạo có sự hỗ trợ phần nào kinh phí của dự án (11 người) thì các ý kiến của họ đều tập trung vào mấy nội dung sau:
- Đã tạo cho họ cơ hội cũng như trợ giúp cho họ phần nào khó khăn về tài chính đã được tham dự các khoá học, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn hoặc tiếp thu các kiến thức mới.
- Qua đào tạo đã giúp cho họ có khả năng chuyên môn tốt hơn trong khám chuẩn đoán cũng như điều trị cho bệnh nhân.
- Hiểu rộng hơn nhiều lĩnh vực khám chữa bệnh như việc sử dụng máy siêu âm, sử dụng tguốc đúng bệnh hơn.
- Cách chăm sóc bệnh nhân, vệ sinh khu vực khám chữa bệnh tốt hơn với các nhân viên điều dưỡng được cử đi đào tạo.
Điểm yếu:
- Thời gian đào tạo cần bị hạn chế chưa đủ để tiếp thu sâu hơn về chuyên môn.
- Kinh phí hỗ trợ còn hạn hẹp chưa thực sự giúp mọi người các khó khăn về sinh hoạt, mua tài liệu.
- Do kinh phí còn chậm nên nhiều khoá học phù hợp không thực hiện được.
- Học về xong máy móc thiết bị cũ quá hoặc hỏng nên phát huy được hiệu quả.
Các kiến nghị của phía Trung tâm y tế 2 huyện:
1/. Đề nghị tăng thêm kinh phí cho các hoạt động như:
* Mua thêm các trang thiết bị mang tính chủ lực quan trọng trong khám chữa bệnh như: máy siêu âm hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, điện tim, máy chiếu phục vụ học tập, hội họp.
* Tăng thêm kinh phí cho đào tạo nhất là đào tạo có tính dài hạn, đào tạo các loại chuyên môn mà địa phương đang cần.
- Chi phí cho cải tạo tu bổ bệnh viện, vệ sinh bệnh viện và các chi phí bảo dưỡng máy, thiết bị.
2/. Nên có đầu tư theo chiều sâu vì phần này thường kinh phí của Nhà nước bị hạn chế. Không đầu tư dàn trải mà tập trung.
3/. Tạo một tủ sách chuyên môn cho mỗi Trung tâm các tài liệu cần thiết để cho cán bộ bác sĩ tham khảo.
4/. Không nên đưa các thiết bị y tế từ Pháp sang nếu các thiết bị đã quá cũ, đã lạc hậu về kỹ thuật vì như vậy sẽ tốn các chi phí thủ tục tiếp nhận.
5/. Tài chính nên thống nhất về một mối không nên có sự khác biệt giữa các nơi và nên có sự giám sát chặt chẽ.
6/. Kinh phí không sử dụng hết do về chậm được chi vào việc khác, cho nối Internet để tiện liên hệ.
* Mặt mạnh:
- Dự án y tế đã đạt được hiệu quả cao nhất là về mặt xã hội. Nó đã giúp cho việc cải thiện cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn nhân lực cho các địa phương đang còn nhiều khó khăn hạn chế như Tam Nông và Tân Hồng.
- Đã giúp được một số các trang thiết bị cần thiết cho khám và chữa bệnh chính điều này đã làm tăng các điểm mạnh của các Trung tâm này so với một số huyện khác trong tỉnh (ví dụ như chỉ có Tân Hồng có trung tâm ô-xy trong toàn tỉnh).
- Trình độ của cán bộ y, bác sĩ được nâng cao và chính điều này kết hợp với các trang thiết bị đã nâng cao chất lượng khám và điều trị. Điều đó thể hiện qua các con số như:
* Số bệnh nhân đến khám bệnh của 2 trung tâm tăng lên nhiều so với khi chưa có dự án vì do có thêm chuyên khoa mới (chấn thương chỉnh hình, chuyên khoa mắt…) cùng với các bác sĩ có trình độ cao hơn (đều sử dụng được siêu âm…). Ví dụ qua một số con số như sau:
Ở bệnh viện Tam Nông số bệnh nhân nội trú:
Năm 2001: 3023 người.
Năm 2003: 4130.
Năm 2004: 5082.
Năm 2004 số khám là 16.000 người và điều trị là 5.082 người.
Nếu số người siêu âm năm 2001 và 2002 chì là 1.250 người thì 2004 lên gần 2.000 người.
* Số bệnh nhân đưa chuyển bệnh ít hơn vì đã có thêm một số loại bệnh mà các trung tâm chữa trị được.
* Số lượng thuốc được tăng lên nhiều do sự hiểu biết của các Bác sĩ về thuốc được nâng cao.
* Người dân các huyện trên vào các bệnh viện khám và điều trị nhiều hơn.
* Việc quản lý dự án tốt, có trách nhiệm.
Điểm yếu:
* Đầu tư còn ít nên các thiết bị chưa được nhiều và chưa có được các loại máy móc có giá trị khi mà kinh phí của bệnh viện không thể mua được.
* Thiết bị cũ, xuống cấp phải sủa chữa nhiều.
* Đào tạo chưa sâu, kinh phí hỗ trợ ít nên ảnh hưởng đến khả năng học cũng như tiếp thu hết kiến thức.
* Các vấn đề liên quan đến quyết toán chưa rõ ràng về hình thức bảng biểu. Việc lưu giữ các báo cáo tài chính chưa chuẩn theo mẫu thống nhất (các mẫu cũng chưa đựoc hợp lý nên gây khó khăn khi đọc và tìm hiểu các nội dung chi tiết cụ thể).
Kiến nghị:
* Nên tiếp tục duy trì nguồn tài chính cho các hoạt động của các trung tâm y tế này. Các nguồn tài chính này vẫn nên hỗ trợ cho các trung tâm về:
- Thiết bị: có thể tập trung vào trang bị một số máy đang có nhu cầu khám cho nhiều loại bệnh nhân như: máy siêu âm, máy xét nghiệm sinh hoá và một số thiết bị nhỏ khác như điện tâm đồ, dụng cụ mắt…
- Đào tạo: tiếp tục hỗ trợ đào tạo cả ngắn và dài hạn, đào tạo cả về bảo dưỡng máy móc và vệ sinh bệnh viện. Hộ trợ kinh phí đào tạo cũng như sinh hoạt cho các học viên.
Tổ chức hội họp trao đổi kinh nghiệm giữa các bệnh viện.
- Trang bị tủ sách tài liệu chuyên cho các bệnh viện.
- Tổ chức lớp học sử dụng máy tính, ngoại ngữ cho các y Bác sĩ.
* Cải tiến cách quản lý tài chính, các báo cáo thật rõ ràng cụ thể các nội dung cần thiết.
4.4.3 Hợp phần chăn nuôi cá- vườn cây:
Mục đích của hợp phần này đã được xác định rõ khi xây dựng dự án và nhìn chung đã được thực hiện tất cả các hạng mục đề ra như dự kiến và trên thực tế đã vượt cao hơn dự kiến ban đầu cả về nội dung công việc và tất nhiên đã kéo theo cả các chi phí tăng lên rất nhiều.
(xem bảng dự kiến và thực hiện).
Chăn nuôi cá:
Qua bảng trên ta thấy diện tích các ao thả cá đã tăng lên nhiều so với dự kiến 12.000m2 năm 1 và 20.669m2 năm 2.
Các hoạt động của dự án (xem bảng phụ lục).
Các hoạt động của dự án đã được vạch ra và dự kiến một khoản ngân sách tương ứng khá chi tiết. Các hoạt động và các khoản tiền bao gồm từ việc chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho nuôi thả đến việc mua cá giống, thức ăn cho cá và công việc chăm sóc bảo dưỡng.
Có thể nói tóm lại là các dự kiến cần thiết cho dự án này được nêu ra và tính toán khá kỹ.
Kết quả thực hiện:
Như trên đã nêu, trên thực tế diện tích ao đã được mỡ rộng ra khá lớn do được huyện giao thêm đất. Diện tích ao mở rộng được sự hỗ trợ kinh phí từ phía tỉnh và dự án chỉ phải chi phí tiền nạo vét ao.
Về phương diện kỹ thuật:
- Các ao đều đạt tiêu chuẩn để có thể chăn thả cá. Đảm bảo đủ độ sâu để có thể chứa được mức nước cần thiết cho nuôi các loại cá.
- Đảm bảo đúng kỹ thuật đối với các bờ bao quanh ao, có hệ thống dẫn để thay hoặc bơm thêm nước vào ao.
- Làm được nhà để làm kho chứa thức ăn dự trữ, nơi chế biến thức ăn cho cá. Khu chế biến thức ăn có các dụng cụ cần thiết cho việc tự chế biến thức ăn và có thể nói mang dáng dấp của kho nuôi thả và công nghiệp.
- Các vật dụng phục vụ cho việc bảo dưỡng ao cũng như phục vụ cho cá cũng đã được mua sắm.
Về phương diện nuôi thả cá:
* Giống cá nuôi thả là cá Tra và hiện nay loại cá này là chính. Vì thế không thực hiện được đủ các loại cá như dự kiến và theo cán bộ dự án cho biết thì số lượng cá hiện nay nhiều hơn dự kiến do diện tích tăng.
* Thức ăn được mua riêng lẻ từng thành phần riêng và sau đó về chế biến với các thiết bị được mua như dự kiến.
Về mặt tài chính thực hiện:
Qua bảng cho ta thấy hầu hết các chi phí thực hiện đều cao hơn so với dự kiến ban đầu. Đối với năm 1, số kinh phí chi thực tế tăng nhiều ở đào tạo mới 2 ao, xây cất nhà kho, sử lý ao, lưới rào và tăng ít hơn ở các chi phí khác.
Đối với năm 2 thì chi phí thức ăn đã tăng gấp gần 3,5 lần dự kiến, gần 3 lần ở bảo quản cá và tăng ít hơn (khoảng gần 20%) ở mua cá giống.
Điều này được lý giải là do không tính đúng tính đủ các chi phí dự kiến, có dự trù như nhà kho, chảo nấu thức ăn và do trượt giá.
Thu hoạch cá:
Cho đến nay theo báo cáo thì mới thu hoạch 1 lần với số lượng cá thu được là 1,5 tấn với tổng số tiền bán khoảng 131 triệu đồng (với giá vào khoảng 8.500đ/ kg).
Số lượng cá còn lại được ước tính khoảng 40 tấn với giá bán hiện nay chỉ 6.700đ/kg và như vậy chỉ có thể thu được khoảng 268 triệu đồng.
Như vậy, cho thấy dự án đã không thực hiện được các mục tiêu cụ thể là:
- Chi phí thức ăn ở năm đầu vượt so với dự kiến nhưng chỉ khoảng 20% nhưng ở đầu năm 2 đã gấp gần 3,5 lần như đã nêu.
- Chi phí bảo trì của năm 1 và 2 so với dự kiến.
- Giá bán cá thấp hơn gần 20% so với giá dự kiến (nếu dựa trên tỉ giá đồng Euro khi lập dự án) và giảm đến gần 40% nếu bán cá vào thời đểim này (cũng dựa trên tỷ giá đồng Euro khi lập dự án và còn thấp hơn với tỷ giá hiện tại).
Đánh giá, phân tích việc thực hiện và kết quả dự án:
Qua kết quả thực hiện của dự án nuôi thả cá có thể cho thấy các điểm mạnh, yếu của lĩnh vực này như sau:
Điểm mạnh:
- Có mục đích rõ ràng trong việc knâng cao thu nhập cũng như dinh dưỡng cho cộng đồng.
- Mạnh dạn đầu tư về tiền, công lao động.
- Có sự theo dõi thường xuyên của lãnh đạo dự án.
Điểm yếu:
- Tính toán không đầy đủ, không có nghiên cứu cụ thể về tính khả thi của dự án nhất là về các khả năng rủi ro có thể có vì thế dẫn đến tình trạng thua lỗ.
Hiện nay, ta thấy dự án đã chi phí với số lượng tiền rất lớn so với các dự án khác. Các chi phí vào cơ sở hạ tầng thiết bị dụng cụ có thể được tính theo phương thức khấu hao qua nhiều năm và chi phí đến chi phí thức ăn, chi phí giống, chi phí lương công nhân, một phần chi phí bảo trì thì cũng đã vượt xa với số tiền cá thu được và nếu cộng thêm tiền khấu hao cơ bản của cơ sở hạ tầng, thiết bị thì số thâm hụt giữa chi và thu còn lớn hơn.
- Việc áp dụng kỹ thuật nuôi cá chưa được tốt nó thể hiện ở các hiểu biết về cách cho ăn (khối lượng thức ăn, thời gian cho ăn, số lần trong ngày…) chưa sâu ở người được tuyển lựa phục vụ việc chăn nuôi này.
- Không tính toán kỹ trước khi có ý định mở rộng sản xuất nên dẫn đến trình trạng phải theo đuổi một công việc ngoài khả năng quản lý đầu tư cho phép.
- Không có kỹ thuật viên chuyên sâu về chăn nuôi cá trợ giúp (không đủ kinh phí để trả lương cho nhân viên này vì quá cao).
Kết luận:
Như đã nêu ở trên: mục đích và ý tưởng của dự án đặt ra là khá rõ ràng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc nuôi cá như vậy đã và đang mang tính vĩ mô của cả vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Việc phát triển nuôi các loại cá có xu hướng phục vụ cho xuất khẩu như cá Tra đã gặp phải không ít rủi ro trong đó có việc giá cả bị biến động có chiều hướng bất lợi.
Chính vì chưa có một nghiên cứu mang tính cụ thể trước đó và khi thực hiện lại có nhiều bước không tính toán kỹ nên kết quả không được như mong đợi.
* Không có tính quyết đoán khi bắt đầu có các biểu hiện khó khăn, rũi ro về kết quả sẽ thu được so với dự kiến.
* Nếu tiếp tục duy trì thì chưa thể có kết quả tốt trong thời gian tới.
Kiến nghị:
Với tình hình như hiện nay như đã tính toán là bất lợi cho dự án nếu tiếp tục cho nên theo ý kiến chúng tôi thì.
* Dừng việc chăn nuôi số cá còn lại hiện nay. Nên đánh bắt số cá này lên và đem bán để gỡ lại phần nào số vốn đã bỏ ra. Theo cán bộ dự án thì cá cũng đã có trọng lượng khá lớn và nếu tiếp tục nuôi thì càng phải chi thêm tiền thức ăn, lương công nhân và các chi phí khác và càng thua lỗ.
* Có thể tính toán cho đấu thầu việc thuê lại các ao nuôi thả cá cho tư nhân nhằm lấy lại tiền vốn đã được đầu tư và tìm phương án khả thi cụ thể sau nhất là nếu có pha 2 của dự án.
* Nếu với mục đích để sinh lợi dùng tiền cho các hoạt động khác thu được từ nuôi thả cá thì có thể pha 2 sẽ xem nên làm công đoạn nào trong cả dây chuyển nuôi cá (làm cá giống, hay làm thức ăn cung cấp cho người nuôi…).
Vườn cây:
Cũng như việc nuôi cá, mục đích và các mục tiêu được đề ra qua việc đầu tư cho vườn cây cũng rất rõ ràng và nhất là kết hợp tận dụng diện tích đất quanh như nuôi thả cá là hợp lý.
Hoạt động dự kiến:
- Trồng 80 cây xoài và 300 cấy nhãn trên diện tích đất dự kiến là 13.240m2 .
- Lắp đất hệ thống ống nước để tưới cho cây, và
- Chăm sóc bảo quản cây.
Thực hiện dự án:
- Đã thực hiện việc trồng cây nhưng chủ yếu là xoài chứ không có nhãn như dự kiến (vì nhãn được cho là có hiệu quả bằng xoài) và số lượng hiệu là 600 cây. Các cây phát triển có chiều hướng chậm do điều kiện đất kém dinh dưỡng, cỏ mọc nhiều ăn lấn hết cả chất của cây.
- Đã lắp đặt hệ thống tưới như dự trù.
- Về kinh phí cao hơn dự kiến ở phần phân bón (do số lượng cây tăng nhiều) và ở phần chi phí công nhân (do giá cả sinh hoạt đã thay đổi so với khi dự kiến).
Đánh giá:
- Điểm mạnh:
- Thực hiện được dự kiến đề ra cả về hoạt động và kinh phí có vượt song không nhiều.
- Có sự chăm sóc và có khả năng sinh lời ở vài năm tới.
Điểm yếu:
- Việc chăm sóc chưa thật tốt, qua quan sát cho thấy cây phát triển còn chậm, cỏ mọc nhiều.
Tính khả thi của dự án:
Hiện vườn cây được đánh giá là lớn nhất trong vùng, có qui hoạch đẹp và được cho là có tiềm năng sinh lời lớn trong vài năm tới. Nếu dựa vào sự sinh trưởng của cây thì trong vòng vài năm tới sẽ có một số lớn cây trồng đợt đầu sẽ cho thu hoạch.
Số lượng quả sẽ tăng lên theo tuổi của cây và có thể chỉ sau 2 3 năm tới sẽ cho thu vốn đã đầu tư vào vườn cây này.
Kết luận:
* Nếu chỉ tính phần đầu tư cho cây thì có thể có tính khả thi tuy nhiên việc sinh lời chỉ có thể đến sau vài năm nữa.
* Có thể sau này khu vườn cây sẽ trở thành một điểm du lịch tại chỗ cho thanh niên của địa phương.
Kiến nghị:
* Nếu thực hiện phương án cho đấu thầu thuê các ao nuôi cá cho tư nhân thì vốn để duy trì chăm sóc vườn cây phải được tính đến nhất là khi bắt đầu có thu hoạch.
Nên đầu tư thêm vào các loại phân vô cơ sẳn có tại địa phương để chăm sóc cho cây phát triển tốt, khắc phục được tình trạng kém dinh dưỡng như hiện nay.
* Xem xét lại số lượng công nhân chăm sóc hiện nay vì theo chúng tôi 3 người là quá nhiều và như vậy làm tăng chi phí thường xuyên dẫn đến không có hiệu quả.
|
|
|
|
|
|
BÀI DỊCH
4.4.2 Coopération concernant de la santé:
C’est une coopération d’investissement notamment pour 2 centres de santé de 2 districts Tam Nông et Tân Hồng. On peut dire que le but de ce programme est très clair, efficace et approprié à la situation réelle du domain sanitaire du peuple aux 2 districts.
Activités et crédits prévus:
(voir le tableau)
Validation du projet – Activités concrètes:
Les activités ont été réalisées après 2 années d’opérer du projet et tout est juste comme ce qu’on a proposé. Les principaux domains se sont concentrés dans:
• Acheter des équipements.
• Réparer des maisons.
• Réparer et founir de la garantie des équipements.
• Appliquer des formations pour élever le niveau des cadres sanitaires du centre.
Résultats:
À travers la réalisation des activités ci-dessus, après plus de 2 années on conclut des résultats suivants:
a/. Achat des équipements:
Les équipements achetés sont comme ce dans le projet initial.
Bons points:
- Les équipements ont aidé des hôpitaux des 2 districts à mieux diagnostiquer les maladies. Cela a été démontré par quelques équipements tels que petits instruments sanitaires, appareil à analysation bio-chimique au centre de santé Tam Nông (en réalité, cet appareil a été déjà fourni par CCFD, en dehors du budget de ce projet).
- Les équipements ont aidé aux meilleurs services pour les malades au cours du traitement.
Ce fait a été manifesté à travers les équipements munis pour 02 ambulances du Centre de santé à Tam Nông, du système du centre à fournir de l’oxygène à Tân Hồng et des autres équipements.
L’aide à améliorer l’hygiène des hôpitaux devenant de plus en plus bonne et à éviter la pollution de l’environnement des hôpitaux et également des régions environnantes a été manifestée par les fourneaux à détruire des ordures installés aux 2 hôpitaux, les instruments tenant des ordures, les toilettes pour des malades…
Mauvais points:
- Quelques équipements trop vieux, retardataires et hors du service que CCFD (ou SFD) nous a offerts ont rendu une mal psychologie aux cadres des hôpitaux (à cause de la perte de beaucoup de frais pour la réception desdits équipements). Ainsi, cela ne donne pas une bonne efficacité et faire monter les frais à les réparer.
- Hors du besoin des hôpitaux, il n’y a pas eu déjà assez des équipements vraiment nécessaires pour le besoin du diagnostic, de la consultation et du traitement des hôpitaux (peut-être à cause de la limite des crédits).
b/. Réparation, mise à niveau des maisons, des salles de consultation:
Ce fait a permis à améliorer la situation de la rangée des salles de consultation et de traitement dégradées. Néanmoins, la somme d’argent n’a pas encore répondu au besoin actuel des 2 hôpitaux ou ce manque vient d’une autre cause que l’obstérique à Tam Nông n’a pas pu installer une salle réservée aux soins spéciaux pour des nouveau-nés en raison du petit nombre des naissances spéciales durant une année. Il s’agit d’un gaspillage et ainsi qu’une inefficacité si une salle de la sorte s’installe à l’hôpital Tam Nông.
c/. Réparation et founiture de la garantie des équipements et appareils:
La fourniture de la garantie est un fait indispensable, particulièrement pour ces 2 districts lointains et subis des grandes influences naturelles qui s’imposent sur les équipements et le système d’infrastructure et rapidement les dégradent.
Cependant, à propos de la somme d’argent prévue, ce n’est pas assez et les dépenses souvent passent par la demande ou le fait cause des influences sur la fourniture de la garantie telles que fourniture pas exhaustives en raison de la limite des crédits.
Une autre limite de la fourniture de la garantie qui est le manque des cadres spécialisés dans la technologie de réparation et de fourniture de la garantie cause aussi des difficultés pour la fourniture de la garantie.
d/. Formation:
La formation pour améliorer, élever le niveau des médecins du Centre de santé du district est indispensable et l’efficacité de ce fait est très grande. C’est la stratégie de la formation de l’État du Vietnam, de la province Đồng Tháp ainsi que de ces 2 districts pour former de la ressource humaine.
Au projet investis par CFFD, la formation est souvent divisée en 2 types:
- Suivre les cours de formation à court terme aux écoles de santé de la province ou hors de la province ou aux grandes hôpitaux.
- Suivre les cours d’enseignement à place exercés par le projet avec l’aide des docteurs experts de SFD.
Bons points:
- Durant la première année, la quantité des cadres enseignés et les spécialités de formation se sont assurées comme prévues, à l’égard de la deuxième année, le contenu de la formation n’a pas été tout réalisé à cause du retard de la réception des crédits.
- La formation a ouvert beaucoup de chances pour nombreux médecins à élever le niveau de spécialité (car dans le lointain, l’accès aux nouvelles connaissances est vraiment limité et cela a fait reculer beaucoup leur niveau de connaissance).
En outre, les medecins et les docteurs ont déjà saisi quelques nouvelles connaissances. De ce point, on peut tirer quelques exemples suivants:
L’application de l’ultrason permet un meilleur diagnostic.
• 100% des medecins à tous les 2 Centres a suivi les études de la réanimation de secours pendant que les crédits ne le permettent pas.
• Aux 2 Centres, on a pu traiter quelques maladies que l’on n’avait pas pu traiter auparavant et ainsi les malades avaient du être enovoyés aux hôpitaux de la province ou de Hô Chi Minh Ville, par exemples, l’orthopédie à Tam Nông ou l’ophtalmologie à Tân Hồng.
• Beaucoup de communes a été conseillées dans le traitement de la fièvre pétéchiale, de la diabète (sucrée) et de la tension artérielle supérieure à la normale.
• À travers la formation, le fait qu’a été améliorée la connaissance de l’usage des médicaments a rendu des hôpitaux de plus en plus nombreux.
• L’hygiène aux salles de consultation et de traitement ainsi que la méthode de traiter des maladies, les soins destinés aux malades a été améliorées.
Mauvais points:
• On ne peut pas être actif à la formation en spécialité ainsi qu’en horraire.
À présent, malgré le projet de la formation dressé, tous les 2 centres doivent accepter l’idée adoptée par le Service de santé – son établissement dirrigeant direct. Les spécialités de formation doivent dépendre à un certain point du plan des besoins de la province et prendre de l’approbation du Service de santé et quelques problèmes s’interviennent:
• Les spécialités ne sont pas de tout près le besoin des salles réservées aux malades, à la consultation et au traitement des Centres (par exemple, à Tam Nông, l’administration du Centre indique que quelques spécialités telles que consultation et traitement concernant le goitre – une maladie tenant une grande proportion dans a région – sont très nécessaires).
• Quand le Service de santé l’appouve, peut-être le cours est tard et n’est pas approprié au besoin.
• On n’est pas actif dans la disposition pour la formation selon le besoin du Centre.
• Les crédits pour la formation aidés sont souvent insuffisants et ne répondent qu’à quelques parts des dépenses payées pour un cycle de formation pendant que les dépenses pour tout le cycle ne sont pas grandes.
Exemples: - Ophtalmologie: 3,6 millions de dongs / cycle / 10 mois / personne.
- Diagnostic à l’ultrason général: 1,2 millions de dongs / cycle / 4 mois / personne.
Ou bien à cause du manque des crédits, les médecins n’ont pas pu suivre les cours de la réparation et du maintien des appareils et des équipements sanitaires, en outre, il n’y a pas de formation de l’hygiène et de la sécurité de la santé.
• Il s’agit des cours à court terme au lieu de ceux à long terme.
• Les cours de perfectionnement organisés par SFD sont très efficaces. Pourtant, d’après les observations, beaucoup de choses ne sont pas appropriées à la réalité locale. Conformitement au Centre, plusieurs contenus sont des essentiels que tous les médecins ont déjà saisis, des nouvelles récentes en ce qui concerne la spécialité qu’il leur faut ne sont pas transmises assez. Par exemples: Quels sont des bons points des nouveaux médicaments pour la diabète par rapport des anciens?…
• Le choix du personnel est raisonnable mais après avoir achever les études et retourner aux hôpitaux, les médecins ne peuvent pas appliquer bien ce qu’ils ont étudié à cause du manque des équipements.
Réalisation du plan de l’utilisation du budget:
En effet, le frais payé pour l’organisation des Centres de santé des 2 districts n’est pas abondant et en général, durant 2 années dernières, ces dépenses ont été utilisées relativement mieux que ce qu’on avait proposé.
En particulière, en deuxième année, à cause du retard dans l’annoncement, quelques contenus de la formation ont été ajournés et à présent à tous les 2 Centres, les crédits pour la formation sont en excédent.
- Les dépenses pour les activités de SFD tiennent une grande proportion.
- Comme les crédits transmis aux 2 centres sont différents en forme, on n’est pas actif à dépenser (selon l’information, les crédits du Centre de santé Tam Nông ont été envoyés au Service de santé de la province au lieu d’envoyer directement au district comme à Tân Hồng) et cela a rendu plus compliqué le fait du compte définitif.
Quelques idées des cadres – médecins qui ont en crédits de CCFD:
À travers le contact avec des cadres des 2 centres qui ont suivi des cours de formation avec l’aide à un certain point des crédits du projet (11 personnes), leurs idées se sont concentrées sur quelques contenus suivants:
- Ils ont obtenu de la chance ainsi que de l’aide à surmonter les difficultés de budget afin de suivre des cours, des cours de perfectionnement destinés à élever le niveau de spécialité ou de tirer avantage des nouvelles connaissances.
- Par la formation, ils ont été munis des meilleures compétences de spécialité dans la consultation, le diagnostic ainsi que le traitement des maladies.
- Ils ont connu mieux le domain de consultation et de traitement des maladies ainsi que l’utilisation des appareils à ultrson, ou l’utilisation plus correcte des médicaments.
- Les soins pour des malades, l’hygiène de la zone de consultation et de traitement ont été mieux améliorés avec des employés enseignés.
Mauvais points:
- La durée de la formation nécessaire est limitée, ce n’est pas assez pour tirer avantage de la spécialité.
- Les crédits limités n’ont pas encore vraiment aidé tous à surmonter les difficultés de la vie et de l’accès aux documents.
- À cause du retard de l’aide en crédits, beaucoup de cours n’ont pas été validés.
- Après avoir achever des études, ils n’ont pas pu faire valoir de l’efficacité parce que des équipements et des appareils sont très anciens.
Motion de côté des Centres de santé des 2 districts:
1/. Augmenter les crédits pour des activités comme:
• Acheter davantage des équipements principaux du domain de consultation et de traitement tels qu’appareil à ultrason photographique, appareil à analysation bio-chimique, électrocardioscope, projecteur visé aux études ou réunions.
• Augmenter les crédits pour la formation, surtout la formation à long terme et la formation des spécialités indispensable à la région locale.
- Les crédits réservés à la réforme et la réparation l’hôpital, à l’hygiène de l’hôpital et aux autres dépenses pour entretenir des appareils et des équipements.
2/. Il faut investir profondément parce que cette direction d’investissement de l’État est limitée. Il faut investir de façon convergente au lieu d’investir de façon étendue.
3/. Créer une librairie des livres spécialisés pour chaque Centre qui se compose des documents nécessaires que les médecins peuvent consulter.
4/. Ce n’est pas la peine à y envoyer des équipements sanitaires de la France si ces équipements sont très anciens et très retardataire en technologie parce que les frais pour la réception sont très grands.
5/. Les crédits doivent être unifiés dans une forme, il ne faut pas avoir des différences entre des lieux et il faut des supervisions strictes.
6/. Tous les crédits qui n’ont pas été utilisés en raison du retard doivent être utilisés pour d’autres activités, il faut améliorer le mode de contact par l’aide de l’Internet.
Bons points:
- Le projet de la santé a connu de grande efficacité au côté social. Il a aidé à améliorer à la fois l’assise matérielles et la ressource humaine des localités ayant des difficultés et des limites comme Tam Nông et Tân Hồng.
- L’aide des équipements nécessaires pour la consultation et le traitement a fait augmenter des bons points de ces Centres par rapport des autres à quelques d’autres districts de la province (par exemples, le centre d’oxygiène de la province entière ne se trouve qu’à Tân Hồng).
- Le niveau des cadres sanitaires et des médecins a été élevé en plus haut et en joignant les équipements, ce fait a élevé la qualité de la consultation et du traitement. Cela a été présenté par des chiffres suivantes:
• Le nombre des malades venant consulter des 2 centres a bien augmenté par rapport au temps précedent de l’apparition du projet parce qu’il y a davantage plus des nouvelles spécialités (orthopédie, ophtalmologie…) et plus des médecins ayant le niveau plus haut (ils peuvent utiliser les appareils de consultation à ultrason…). On a quelques chiffres pour l’exemple:
À l’hôpital Tam Nông, le nombre des malades hospitalisés:
En 2001: 3023 personnes
En 2003: 4130.
En 2004: 5082.
En 2004, le nombre des malades qui sont venus pour faire de la consultation est de 16.000 personnes et appliquer du traitement est de 5.082 personnes.
Si en 2001 et 2002, le nombre des malades qui sont venus pour faire du diagnostic n’est que de 1.250 personnes, en 2004, ce nombre est de quelque 2.000 personnes.
• Le nombre des malades qui ont du être transmis aux hôpitaux supérieurs est moins nombreux parce qu’il y a eu davantage quelques maladies que le Centre a pu guérir.
• La quantité des médicaments a été augmentée davantage beaucoup de plus pour la raison que les connaissances des médecins concernant des médicaments ont été élevées.
• Le peuple de ces districts viennent aux hôpitaux pour faire de la consultation et appliquer du traitement de plus en plus nombreux.
• Le projet a été bien dirrigé avec responsabilité.
Mauvais points:
• L’investissement n’est pas grand, donc les équipements ne sont pas nombreux et il n’y a pas encore des appareils valables pendant que les crédits de l’hơpital ne peuvent pas les atteindre.
• Les équipements sont anciens, dégradés et doivent être beaucoup réparés.
• La formation n’est pas profonde, les crédits d’aide modestes influencent à la capacité d’étudier et de tirer avantage des connaissances.
• Les problèmes concernant le fait du compte définitif ne sont pas encore clairs dans la forme des tableaux. La sauvegarde des rapports financiers n’est pas conforme au standard unifié (les exemples ne sont pas encore raisonnables, on affronte donc des difficultés en lisant et étudier les contenus concrets).
Motion:
• Il faut maintenir les ressources financières destinées aux activités de ces Centres de santé. Ces ressources financières doivent aider encore les Centres dans:
- Les équipements: on peut équiper quelques appareils pour le besoin de la consultation destiné à plusieurs maladies comme: appareil à ultrason, appareil à analysation bio-chimique et quelques petits équipements comme: électrocardioscope ou outils pour l’ophtalmologie…
- La formation: Continuer l’aide de formation à long terme ainsi que à court terme, formation de la réparation et du maintien des appareils et de l’hygiène de l’hôpital. Aider dans les crédits de la formation ainsi que de vie pour les élèves.
Organiser les réunions pour échanger des expériences entre des hôpitaux.
- Équiper une librairie des documents spécialisés pour chaque hôpital.
- Organiser des cours réservés à l’enseignement de l’utilité des ordinateurs et des cours de languages pour les médecins.
* Perfectionner le mode d’administration financière, les contenus nécessaires des rapports doivent être clairs.
4.4.3 Coopération concernant l’élevage des poissons – des jardins:
Le but de cette coopération a été défini clairement pendant la construction du projet et en général, tous les articles ont été réalisés comme prévus et en effet, la rélisation est passée par ce qu’on avait prévu même en contenu du travail et évidemment, les dépenses ont bien augmenté trop.
(voir le tableau du projet prévu et réalisé).
Élevage des poissons:
À travers le tableau ci-dessus, on aperçoit que la superficie des étangs poissonneux a augmenté beaucoup de plus par rapport à 12.000 m2 à la première année et 20.669 m2 à la deuxième.
Activités du projet (voir l’appendice).
Les activités du projet ont été dressées et un budget correspondant prévu a été très concret. Les activités et les sommes d’argent de la préparation de l’assise matérielle de l’élevage jusqu’à l’achat des poissons reproducteurs, de la nourriture pour les poissons, les soins et le maintien.
En bref, on peut dire que la prévision pour ce projet a été dressée et calculée très soigneusement.
Résultats:
Comme indiquée ci-dessus, en effet, la superficie des étangs poissonneux a été étendue avec une très grande quantité grâce à la fourniture davantage des terrains. La superficie des étangs a été étendue par l’aide des crédits de la province et le projet n’a payé que le frais pour curer les étangs.
Côté technologique:
- Tous les étangs ont répondu au standard pour l’élevage des poissons et ont assuré la profondeur pour contenir le niveau d’eau nécessaire pour l’élevage des poissons.
- Tous les marges des étangs ont assuré de la correcte technologie, il y a de l’irrigation afin d’irriguer et changer de l’eau dans les étangs.
- Il y a eu des places prises pour dépôts des nourritures des poissons réservées. Au secteur de la transformation des nourritures, il y a eu des outils nécessaires pour transformer des nourritures et on peut dire que ces dépôts semblent la forme d’une zone d’élevage et d’industrie.
- Les outils réservés à la réparation et au maintien des étangs ainsi qu’à l’élevage des poissons ont été achetés.
Côté de l’élevage des poissons:
• La race qu’on a élevée est le Tra et à présent l’élevage de cette sorte de poissons est principal. Ainsi, on n’a pas pu élever toutes les sortes de poissons comme la prévision et selon des cadres du projet, la quantité des poissons est plus grande que prévue grâce à l’augmentation de la superficie.
• Les éléments de la nourriture ont été achetés partiellement et puis transformés par des équipements achetés comme prévus.
Côté de la finance:
À travers le tableau, on voit que la plupart des dépenses sont plus hauts que prévus. À l’égard de la première année, les dépenses réelles ont augmenté beaucoup de plus avec la création des 2 nouveaux étangs, des dépôts, le traitement des étangs, les clôtures et d’autres dépenses ont augmenté moins fort.
À l’égard de la deuxième année, les dépenses ont augmenté 3,5 fois pour les nourritures, approximativement 3 fois pour la conservation des poissons et moins fort (environ 20%) pour l’achat des poissons reproducteurs par rapport à ce qu’on avait prévu.
Cela a été expliqué par le calcul incorrect et insuffisant des dépenses prévues pour les dépôts, les poêles à transformer des nourritures et par la hausse vertigineuse des prix.
Récolter des poissons:
Jusqu’à présent, selon le rapport, on a à peine récolté une fois avec la quantité des poissons de 1,5 tonnes avec la somme de vente d’environ 131 millions de dongs (avec le prix de 8.500 dongs/kg).
Une autre quantité ont été estimée d’environ 40 tonnes avec le prix actuel seulement de 6.700 dongs/kg et ainsi, on ne peut recevoir qu’environ 268 millions de dongs.
Ainsi, le projet n’a pas pu réaliser des buts, concrètement:
- Les dépenses des nourritures à la première année sont passées par ce qu’on avait prévu seulement 20% mais au début de la deuxième année, ces dépenses ont été 3,5 fois de plus.
- Les dépenses pour la réparation et le maintien ont été comme prévues.
- Le prix de vente est 20% de moins par rapport au prix prévu (basé sur la proportion de dong-euro au dressement du projet) et peut-être 40% de moins si on vend des poissons à la période actuelle (également basé sur la proportion de dong-euro au dressement du projet et cette proportion est plus base que celle à présent).
Examiner, analyser l’élevage et le résutat du projet:
À travers le résultat du projet de l’élevage des poissons, on peut apercevoir des bons et mavais points de ce domain comme suivants:
Bons points:
- Le but d’élever la qualité des recettes et des nourritures pour la communauté est clair.
- Courageux dans l’investissement de capital et de travailleurs.
- Avoir l’observation permanente de l’administration du projet.
Mauvais points:
- Ne pas encore calculer suffisamment, ne pas avoir des études concrètes envers la possibilité du projet, notamment les capacités des risques menant à la situation de perte du capital.
À présent, on voit que les dépenses du projet sont très grandes par rapport à d’autres projets. Les dépenses de l’assise matérielle des équipements ont été amortises dans des années et les dépenses de la nourriture, des reproducteurs, des salaires pour les travailleurs, d’une partie des dépenses de la réparation et du maintien ont passé trop loin par la somme de vente rentrant et si l’amortissement essentiel de l’assise matérielle, des équipements y a joint, la différence entre les recettes et les dépenses est plus grande.
- L’application de la technologie de l’élevage des poissons n’est pas encore bonne. Cela a été présenté par les connaissances superficielles dans le fait de faire manger les poissons (quantité, horraire de la nourriture, combien de fois par jour…) des travailleurs choisis pour l’élevage.
- Ne pas calculer soigneusement pour l’intention de l’extension de la production mène à la situation qu’on doit poursuivre un fait hors de la capacité de l’administration de l’investissement.
- Il n’y a pas eu l’aide des experts spécialisés dans l’élevage (il n’y a pas assez de crédits pour inviter leur assistance parce que cette somme est trop haute).
Conclusion:
À ce propos, le but et l’idée du projet sont dressés très clairement. Pourtant, la réalité a prouvé que l’élevage des poissons de la sorte a porté et porte l’importance macroscopique pour tout le Delta Mékong.
Le développement de l’élevage des poissons qui ont l’intention de servir à l’exportation comme le Tra a affronté plusieurs risques dont la fluctuation désavantageuse du prix.
Comme il n’y avait jamais eu d’études concrètes auparavant et à présent, on n’a pas bien soigneusement calculé, le résultat du projet n’est pas comme attendu.
• Il n’y a pas de fait du compte définitif au moment où les difficultés et les riques du résultat par rapport à la prévision ont apparu.
• Si on maintient cette forme, il n’y aurait pas encore de bon résultat dans le temps prochain.
Motion:
À la situation actuelle, comme on a vu les désavantages en continuant le projet, à nos avis:
• Arrêter l’élevage du reste du nombre des poissons à présent. Il faut parier tout ce nombre des poissons et les vendre pour obtenir certaine somme pour rattrapper une partie du capital investi. Selon les cadres du projet, les poissons ont eu un grand poids et en continuant à les élever, on perdra une grande somme pour leur nourriture, les salaires pour des travailleurs et d’autres dépenses. Donc, on subira davantage de la perte du capital.
• On peut penser à l’adjudication pour faire louer des étangs les éléments de particulier afin d’obtenir une partie du capital investi et chercher les plans possibles et concrets et dernièrement, réaliser la second pas du projet, s’il y en a.
• Avec le but de profiter des autres activités de distraction, le second pas peut-il regarder comme quelle phase de tout le cycle de l’élevage des poissons? (les poissons sont considérées comme reproducteurs ou aliments pour l’homme…)
Jardin:
Comme l’élevage des poissons, le but et des cibles à travers l’investissement dans le jardin ont été définis très clairement et surtout, la coordination pour profiter de la superficie autour des étangs poissonneux est raisonnable.
Activités prévues:
- Planter 80 manguiers et 300 longaniers sur la superficie prévue de 13.240 m2.
- Installer le système des pipes pour l’arrosage.
- Soins, conservation des arbres.
Validation du projet:
- On a planté des arbres principalement des manguiers mais sans longaniers comme ce qu’on avait prévu (parce qu’on estime que le longanier et le manguier ont la même efficacité) et leur quantité est de 600 arbres. Les arbres se grandissent lentement à cause de la mauvaise condition du sol stérile, les herbes développent en masse et absorbent tous les substances nourritives.
- Le système d’arrosage a été installé comme prévu.
- En ce qui concerne les crédits, le prix des fumiers (en raison de l’augmentation de la quantité des arbres) et des salaires pour les travailleurs (en raison du changement du prix de vie) est plus haut que prévu.
Estimation:
Bon points:
- Avoir réalisé ce qu’on avait proposé en activités et les crédits sont plus grands mais pas beaucoup.
- Les arbres ont été obtenu des soins et peut-être porteront avantages dans quelques années.
Mauvais points:
- Les soins ne sont pas vraiment bons, à travers l’observation, le développement des arbres est lent, le nombre des herbes est nombreux.
Possibilité du projet:
À présent, le jardin est estimé comme le plus grand de la région, a un beau plan et a la potentialité à produire des grands bénéfices dans quelques années. Si on appuie sur le développement des arbres, dans quelques années, un grand nombre des fruitiers de la première étape pourrai être récolté.
Le nombre des fruits augmentera selon l’âge de l’arbre et peut-être après 2 – 3 ans, on pourrai obtenir le capital investi dans ce jardin.
Conclusion:
• Si on ne calcule que la partie investie dans les arbres, le projet est possible mais les bénéfices ne viendra que dans quelques ans.
• Peut-être, dans le futur, ce jardin devinedra une site touristiqur à place pour les adolescents locaux.
Motion:
• Si on réalise le plan de l’adjudication pour faire louer des étangs, on doit penser au capital pour maintenir et soigner le jardin notamment au moment où s’intervient la récolte.
Il faut investir dans les autres fumiers inorganique à la localité pour les bons soins des arbres afin de surmonter la stérilité du sol à présent.
* Examiner de nouveau le nombre des travailleurs pour les soins des arbres parce que, à nos avis, 3 personnes, c’est nombreux et ainsi, les dépenses permanentes augmentent, et donc, l’efficacité est nulle.
|
|