|
NỘI DUNG YÊU CẦU
4.4.5: Hợp phần đào tạo nghề:
Mục tiêu:
Với các mục tiêu được xác định khi xây dựng dự án như vậy là hoàn toàn hợp lý trong điều kiện thực tế ở địa phương.
Hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên:
Trung tâm giáo dục thường xuyên nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia và hoạt động của trung tâm này là:
* Giáo dục phổ thông cho những học sinh không học được tại các trường công lập, dân lập (lớp 10, 11, 12).
* Mở các lớp học chuyên môn có trình độ sơ cấp, trung cấp cho các cán bộ của huyện, của các xã (thường liên kết với các trường chuyên nghiệp).
* Mở các lớp học nghề về ngoại ngữ, tin học cho các đối tượng có nhu cầu.
Tai Trung tâm ở cả 2 huyện đều không có giáo viên riêng mà chỉ có 5 cán bộ làm công tác quản lý, tổ chức các lớp họ. Về giáo viên cho các lớp, các môn giảng dạy đều được thuê, có hợp đồng với các trường trong và ngoài huyện.
Về lĩnh vực đào tạo nghề thực ra là nhiệm vụ của trung tâm dạy và đào tạo nghề. Tuy nhiên, do các huyện không có trung tâm này nên phần đào tạo nghề đã được giao luôn cho trung tâm giáo dục thường xuyên đảm nhận.
Các dự kiến của dự án do CCFD tài trợ:
(xem bảng).
Các hoạt động của dự án:
Mua các trang thiết bị phục vụ cho các nghề học của các học viên nữ, học viên nam. Các trang thiết bị này bao gồm:
* Các máy may dân điệu và công nghiệp.
* Xe máy phục vụ cho thực hành và học lý thuyết nghề sửa chữa xe máy.
* Các thiết bị điện phục vụ cho nghề học sử dụng, sửa chữa thiết bị điện sinh hoạt, và
* Thiết bị sửa chữa các công việc liên quan đến đường dẫn nước.
Ngoài ra, để phục vụ cho việc đào tạo các nghề ngày còn có một số nguyên liệu như vải để phục vụ cho nghề may, một số tài liệu sách vở học nghề.
Kinh phí của dự án:
Kinh phí của dự án tập trung vào:
* Mua trang thiết bị và dụng cụ phục vụ cho đào tạo (như nêu ở phần trên), và
* Cấp một số học bổng cho học viên. Phần kinh phí các giáo viên giảng dạy hoàn toàn từ nguồn ngân sách của huyện, tỉnh.
Các lớp học sinh được đào tạo miễn phí và cuối năm có 5 học sinh của một lớp đào tạo nghề được học bổng với số tiền là 100.000đồng/ học sinh (từ tài trợ của CCFD ).
* Kinh phí duy tu dưỡng các thiết bị cho đào tạo.
* Kết quả qua các hoạt động của dự án:
* Mua sắm trang thiết bị.
Cả 2 trung tâm ở Tân Hồng và Tam Nông đều đã thực hiện được việc mua các thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo như dự kiến ở năm 1 và 2. tuy nhiên, năm 2 có dự kiến mua một số máy may công nghiệp (với số tiền là: 20 triệu đồng) vẫn chưa thực hiện được do tiền chuyển về chậm (có danh sách kèm theo).
* Duy tu bảo dưỡng thiết bị:
Các trung tâm đều đã tiến hành công việc nàynhư dự kiến trước và sau mỗi khoá đào tạo.
* Thực hiện các khoá đào tạo nghề:
Các khoá đào tạo nghề thường được thực hiện cho 2 loại đối tượng học viên:
* Học sinh các trường phổ thông trung học của huyện và các nghề may dân dụng cho học sinh nam.
Đây là các khoá đào tạo cho học sinh nhằm biết thêm về một số nghề ngoài chương trình học văn hóa (là chương trình bắt buộc) và thời gian học là 90 giờ trong 1 năm với học sinh cấp II và 180 giờ với học sinh Phổ Thông Trung Học.
* Đối tượng thứ 2 học nghề ở trung tâm là các thanh thiếu niên không còn đi học tại các trường văn hóa, chuyên nghiệp có ý định học nghề để có thể tìm được việc làm.
Loại đối tượng này học tất cả các nghề mà trung tâm mở và ngoài ra ở Tam Nông còn có một lớp đào tạo 2 năm về sửa chữa ôtô máy kéo khi học xong có giấy chứng nhận trình độ nghề 3/7 và học 1 năm ở trung tâm về lý thuyết đến năm 2 sẽ di chuyển đến Thành Phố Cần Thơ để thực hành trên máy.
Theo chương trình ở khoá học thì có sự khác nhau giữa 2 trung tâm.
- Lớp sửa xe máy: 2 tháng.
- Sửa chữa điện dân dụng: 3 tháng
- May công nghiệp: 1,5 tháng.
- May gia đình: 23 tháng.
Cho đến nay số lượng học sinh đã theo học các khoá đào tạo nghề ở 2 trung tâm đã vượt so với dự kiến có thể nêu ra qua một số con số dưới đây:
- Tam Nông: hiện có 568 học viên đã hoàn thành việc học và có chứng chỉ (trong tổng số 817 học viên, có nhiều học viên bỏ học giữa chừng không học hết khoá).
- Tân Hồng: có 357 học viên đã học xong và tình trạng bỏ học giữa chúng rất ít.
* Các ý kiến nhận xét của học sinh :
Đã có nhiều ý kiến của các học sinh đã và đang được học nghề tại 2 trung tâm của huyện. Các ý kiến tập trung vào một số nội dung sau:
- Về thiết bị phục vụ học tập các ý kiến đều cho là đã phục vụ được cho quá trình của các học sinh. Tuy nhiên, số lượng thiết bị như xe máy quá ít nên cũng phục vụ cho thựchành còn thiếu, trung tâm phải đi mượn, thuê ở nơi khác.
- Các khoá học đã giúp cho học sinh ở mức độ nhất định. Các học sinh phổ thông cho rằng cơ thể làm được một số việc về may vá, sửa điện cho gia đình. Một số học sinh học theo dân dụng cho rằng khoá học 3 tháng đã có thể giúp họ tự lo việc may cho gia đình, hàng xóm tuy chưa đẹp.
- Cũng có ý kiến cho rằng học may dân dụng với thời gian 2 tháng (như ở Tam Nông) chưa đủ cho các em tự làm nghề được.
- Lớp học sửa xe máy 2 tháng cũng chưa thể giúp cho các em tự lập được mà còn phải đi phụ việc, học thêm.
- Các khoá học thời gian lý thuyết và thực hành là hợp lý.
- Tăng số lượng học bổng nếu có thể.
* Các ý kiến của cán bộ trung tâm, giáo viên:
- Tổ chức các khoá học đã giúp cho các em học sinh có thêm sự hiểu biết một số nghề thông thường trong cuộc sống.
- Đối với các em nam nữ đã nghĩ học ở các trường đã có điều kiện được học nghề để có thể tự kiếm được việc làm.
- Các thiết bị tuy được trang bị song nhiều máy đã xuống cấp, hay hỏng hóc.
- Số lượng thiết bị còn thiếu (xe máy) nên khi thực hành còn phải đi mượn.
- Kinh phí chỉ hỗ trợ cho việc cấp một số học bổng. Nên hỗ trợ trong việc chu cấp tiền công cho giáo viên vì số tiền này cho một khoá học là không nhiều (chỉ từ 1,2 1,5 triệu đồng/ tháng / 1 giáo viên).
- Một số nghề có nhu cầu cao, thu hút học sinh như may, sửa xe máy, sửa chữa ô tô máy kéo. Có thể mở các lớp dài hạn có cấp bằng và học sinh có thể xin được việc làm ngay.
- Nhu cầu may công nghiệp cũng đang tăng do khi học xong có thể xin được việc làm ở các Xí nghiệp may mặc.
- Nguyên vật liệu như vải phục vụ cho học sinh thực tập chưa đủ.
* Phân tích nhận xét về thực hiện dự án:
Điểm mạnh:
- Đây là một dự án mà hiệu quả mang tính xã hội cao. Nó đã tạo cơ hội cho các thanh niên trẻ ở nông thôn nhất là các em gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế có thể được đào tạo một nghề và bằng nghề đã học được có thể tìm được việc làm cho thu nhập.
- Đã thu hút được học sinh nhất là vượt số nghề như cơ khí, may mặc.
Các thiết bị phụ trợ cho việc học nghề đã phát huy được tác dụng vì nhờ có các thiết bị này mà các học viên có thể được minh hoạ bằng trực quan, được thực hành ngang trên máy móc thiết bị mà mình học. Theo chương trình thì thông thường với một khoá học nghề thì 2/ 3 thời gian học là thực hành trên máy và như vậy là các thiết bị này được sử dụng thường xuyên.
- Các suất học bổng đã phần nào động viên cho các em học viên nhất là các em gia đình có khó khăn. Từ đó các em có thêm các nhận thức tốt hơn về vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên, của dự án và qua các em có thể giới thiệu quảng bá cho các học sinh khác đến đăng ký học tại các lớp của trung tâm.
Điểm yếu:
- Kinh phí đào tạo hạn hẹp, chưa có hỗ trợ cho chi trả giáo viên giảng dạy nên khó cho việc mở lớp hoặc cơ thể kéo dài thời gian học theo nhu cầu thực tế đào tạo hoàn chỉnh nghề.
- Thời gian học một số nghề còn ngắn. Có thể ví dụ là lớp sửa xe máy theo các trung tâm thì 23 tháng là chưa đủ.
- Các trường tâm chưa có biên chế giáo viên riêng của mình, vẫn phải đi thuê hợp đồng nên nhiều khi không tìm được giáo viên phù hợp cho kinh phí cho giờ giảng thấp.
- Trung tâm giáo dục còn xa một số xã nêu khi học viên đi học xa, không có chỗ trú lại điều này cản trở việc học viên ở các xã xa huyện tìm đến để học.
- Tiền bảo trì máy thiết bị thực tế còn chưa đủ.
- Kinh phí dự án chuyển còn chậm làm ảnh hưởng đến kế hoạch chiêu sinh mở lớp. Số lượng học bổng còn ít về số lượng cho mỗi lớp học.
- Chưa theo dõi được số học sinh đã học xong các khoá đào tạo đã có thể tìm được việc làm hay chưa.
* Các cản trở chính hiện nay:
Với dự án đào tạo nghề cho học sinh thanh niên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên của 2 huyện hiện nay cho thấy một số cản trở chính làm ảnh hưởng đến hoạt động cũng như kết quả về chất lượng đào tạo.
- Kinh phí đào tạo quá ít không đủ để mở lớp dài hạn có nhu cầu cao trên thị truờng việc làm hiện nay.
- Trang thiết bị phụ trợ còn thiếu, chất lượng chưa cao.
- Thời gian học còn quá ngắn so với nhu cầu hoàn chỉnh một nghề.
- Chưa có đội ngũ giáo viên riêng, chuyên nghiệp của từng trung tâm.
Đề xuất, kiến nghị:
- Nên tiếp tục việc duy trì đào tạo nghề cho thanh niên các xã do hiện có nhu cầu tăng.
- Nghiên cứu nhu cầu nghề trước khi có quyết định chọn nghề nào để đào tạo.
-Tăng thêm kinh phí cho việc đào tạo nhất là hỗ trợ giảng dạy và học bổng.
- Tăng cường mua sắm trang thiết bị nhất là sử dụng số tiền của năm 2 hoặc không chi tiêu hết.
- Giám sát về kết quả đào tạo thường xuyên.
|
|
|
|
|
|
BÀI DỊCH
4.4.5 Volet concernant la formation de professions:
Buts:
Les buts définis durant la construction du plan sont totalement appropriée aux circonstances réelles de la localité.
Activités du centre d’éducation permanente:
Le centre d’éducation permanente appartient au système de l’éducation nationale et ses activité sont:
• Éducation générale réservée aux élèves qui n’a pas pu appliquer des études aux écoles publiques ou privées (les classes de dixième, onzième, douzième au Vietnam).
• Ouverture des classes d’éducation de professions élémentaires et des classes d’éducation de professions de second degrée pour les cadres des districts et des communes (souvent reliées aux écoles spécialisées).
• Ouverture des classes d’éducation de langues et d’informatique pour ceux qui en ont besoin.
Aux centres des 2 districts, il n’y a que 5 cadres au lieu des enseignants chargés de la direction et de l’organisation des classes. À propos des enseignants des classes, des matières, tous sont embauchés, sans contrat signé avec les écoles au dedans et en dehors des districts.
En effet, la formation est de la responsabilité du centre d’éducation et de formation de professions. Cependant, à cause du manque de ces centres aux districts, la formation de professions est en charge des centres d’éducation permanente.
Prévisions à l’égard du plan aidé par CCFD:
(voir le tableau).
Activités du plan:
Acheter des équipement destrinés à l’éducation des professions féminines et masculines. Ces équipements comportent:
• Machines à coudre civiles et industielles.
• Motos au service de la pratique et de la théorie de la profession de réparation.
• Outils d’électricité au service de l’éducation d’utiliser, de réparer des produits d’électricité à domicile, et
• Équipements réservés à la réparations des pipes.
En outre, au service de la formation de professions, il y a de plus en plus beaucoup des premières-matières comme tissus, des manuels et des documents concernant l’éducation de cette profession.
Créduts pour le plan:
Les crédits du plan se concentrent sur:
• Achat des équipements et des outils destinés à la formation (cités ci-dessus), et
• Bourses pour les élèves. Les crédits payés pour l’assistance des enseignants viennent entièrement du budget des districts et de la province.
Les élèves sont formés gratuitement et à la fin de l’année scolaire, 5 élèves par classe d’éducation de carrièress seront gagnés une somme de 100.000 dongs / élève (venue de la promotion de CCFD).
• Crédits pour la réparation et le maintien des équipements réservés à la formation.
Résultats à travers les activités du plan:
• Achats des équipements:
Aux 2 centres à Tân Hồng et Tam Nông, les achats des équipements réservés à la formation ont été comme ce qu’on avait prévu en première et deuxième années. Pourtant, en deuxième année, la prévision d’achater quelques machines à coudre industrielles (ayant une valeur de 20 millions de dongs) n’a pas été réalisée à cause du retard des crédits transmis (ayant la liste accompagnée).
• Réparation et maintien des équipements:
Avant et après un cycle de formation, cette activité a été validée comme prévue.
• Réalisation des cycles de formation de carrières:
Les cycles de formation de carrières sont souvent appliqués par 2 types d’élèves:
- Les lycéens aux districts et les carrières de couture civile pour les élèves masculins.
C’est un cycle de formation destinée à l’enseignement des carrières hors du programme de l’éducation regulière (programme obligatoire) et avec une durée de 90 heures par an pour les collégiens et 180 heures par an pour les lycéens.
- Deuxième objet de cette éducation: les adolescents qui ne font plus des études aux écoles régulières ou spécialisées ont l’intention de suivre l’éducation pour obtenir une carrière.
Cet objet suivra l’éducations de toutes carrières du centre et en outre, à Tam Nông, il y a aussi une classe de 2 ans destinée à la réparation des autos, des remorques, après l’éducation, les élèves recevront des certificats du niveau de carrière 3/7 et appliqueront des études en théorie au centre pendant 1 an et à la deuxième année, ils se sont déplacés à Cần Thơ ville pour pratiquer aux machines.
Il y a des différences de programmes entre 2 centres:
- Réparation des motos: 2 mois.
- Réparation d’électricité civile: 3 mois.
- Couture industrielle: 1,5 mois.
- Couture à domicile: 2-3 mois.
Jusqu’à présent, le nombre des élèves suivant des cycles de formation de carrières des 2 centres a passé par celui prévu, ci-dessous ce sont quelques chiffres:
- Tam Nông: à présent, 568 élèves ont achevé des études et obtenu le certificat (parmi la somme de 817 élèves, plusieurs élèves ne suivent plus le programme avant que le cycle de formation soit fini)
- Tân Hồng: 357 élèves ont achevé le programme et ceux qui abandonnent leurs études parmi eux sont très peu.
• Observations des élèves:
Il y a beaucoup d’opinions des élèves qui ont appliqué et appliquent l’éducation de carrières aux 2 centres des districts. Les opinions se concentrent sur quelques contenus ci-dessous:
- À propos des équipements réservés aux études, les opinions ont tout estiment qu’ils ont bien servi aux processus de l’éducation des élèves. Pourtant, le nombre des équipements tels que motos est très peu, ainsi, les centres ont du les emprunter et les louer ailleurs.
- Les cycles ont aidé les élèves en un niveau déterminé. Les lycéens réclament avoir déjà faire quelques coutures et réparer quelques produits d’électricité à leurs foyers. Quelques élèves suivant la couture civile ont estimé que le cycle de 3 mois a déjà pu les aider à soigner des coutures aux foyers ou chez des voisins malgré peu d’habileté.
- Les opinions estiment aussi que la couture civile avec la durée de 2 mois (comme à Tam Nông) ne les a pas aidé assez pour une carrière.
- La classe de réparation des motos de 2 mois ne les a rendus pas indépendants dans la carrière, ils doivent assister autrui et vivre davantage des expériences.
- La durée de la théorie et de la pratique des cycles sont raisonnables.
- Il faut augmenter le nombre des bourses si possible.
• Observations des cadres des centres, des enseignants:
- L’organisation des cycles de formation a bien aidé les élèves à saisir des connaissances de quelques métiers réguliers dans la vie.
- À l’égard des élèves qui ont abandonné leurs études, ils ont les circonstances à apprendre des carrières pour obtenir l’emploi.
- Les équipements se sont à peine installés pourtant dégradés et dommagés.
- Le nombre des équipements est manqué (les motos), on a du les emprunter au cours de la pratique.
- Les crédits n’ont aidé que quelques bourses. Il faut l’aide des recettes des enseignants parce que cette somme n’est pas grand (seulement 1,2 – 1,5 millions de dongs / mois / enseignant).
- Quelques professions dont on a besoin et qui attirent beaucoup d’élèves comme couture, réparation des motos peuvent être ouverts à long terme et avoir des certificats pour que les élèves peuvent postuler des travaux en sortant de l’école.
- Le besoin de l’éducation de la couture industrielle est en train d’augmenter parce que les élèves peuvent demander des travaux aux entreprises d’habillement en sortant de l’école.
- Les premières-matières et les matériaux comme tissus réservés à la pratique des études ne sont pas assez.
• Analysation de la réalisation du plan:
Points forts:
- Il s’agit d’un plan que l’efficacité sociale est très haute. Il a donné des chances aux adolescents à la campagne, notamment ceux des familles en difficultés économiques à être formé d’une profession et avec cette profession, ils peuvent trouver les carrières qui leur donne de la recette.
- Les cycles de formation ont attiré plusieurs élèves comme mécanique, habillement.
Les équipements supplémentaires réservés aux études des professions ont eu de l’efficacité parce que ave l’aide de ces équipements, les lessons peuvent être animées de façon visuelle, les élèves peuvent pratiquer directement aux machines, aux équipements concernant la lesson. Côté du programme, régulièrement, 2/3 de la durée d’un cycle visent à la pratique aux machines, ainsi, ces équipements sont utilisés fréquemment.
- Les bourses a à un certain point stimulé les études des élèves, notamment ceux des familles en circonstances difficiles. Ainsi, ils ont mieux saisi le rôle des centres d’éducation permanente, du plan et à l’aide de leur présentation, il y aura beaucoup plus d’autres qui y viennent à s’inscrire aux cours des centres.
Points faibles:
- Les crédits de la formation sont limités, ne comportent pas de l’aide au paiement pour la recette des enseignants, ainsi, c’est difficile à ouvrir des classes ou bien allonger la durée du besoin réel – formation parfait pour les professions.
- La durée de l’éducation de quelques professions est très courte. Par exemples. Selon les centres, la durée de 2 ou 3 mois pour la classe de réparation des motos n’est pas assez.
- Les centres n’ont pas encore d’effectif du personnel pour leurs enseignants, ils doivent encore louer les contractuels, donc, parfois, ils ne trouvent pas d’enseignants appropriés aux recettes abaissées des cours.
- Les centres d’éducation sont encore loins de quelques communes, ainsi, les élèves aux communes lointaines n’ont pas de chambres de séjour pour habiter après un jour d’études.
- Les frais pour la réparation et le aintien des machines en effet ne sont pas assez.
- Les crédits du plan sont transmis lentement, ce fait a beaucoup influencé au projet de l’ouverture des classes. Le nombre des bourses pour chaque classe est très peu.
- On n’a pas encore pu observer le nombre des élèves obtenant des travaux après leurs études.
• Pricipaux obstacles à présent:
À propos du projet de la formation de professions pour les adolescents aux centres d’éducation permanente des 2 districts à présent, on aperçoit que quelques obstacles ont influencé aux résultats ainsi qu’à la qualité de la formation.
- Les crédits pour la formation sont très peu, ce n’est pas sassez pour ouvrir des classes à long terme dont le Marché des métiers a besoin à présent.
- Les équipements supplémentaires sont manqués, pas en haute qualité.
- La durée de l’éducation est très courte pour perfectionner une profession.
- Il n’y a pas encore l’ensemble des propres enseignants spécialisés de chaque centre.
Motion, proposition:
- Continuer à maintenir la formation des professions pour les adolescents des communes où le besoin du peuple envers de ces professions augmente à présent.
- Étudier le besoin des professions avant de décider à choisir une profession à former.
- Augmenter davantage des crédits destinés à la formation notamment pour aider l’enseignement et les bourses.
- Intensifier l’achat des équipements, notamment utiliser la somme de la deuxième année ou celle qu’on n’a pas encore tout utilisé.
- Surveiller fréquemment les résultats de la formation.
|
|